Nó có số liệu, có dẫn chứng, nhưng vẫn ngồn ngộn chất thi hứng của một người sáng tác, người viết văn hơn là của một nhà khoa học kinh viện
Thậm chí, khi ký kết giao quờ bản quyền tác phẩm của mình cho Nhà xuất bản Trẻ vào tháng 3-2003, ông cũng chỉ giao cho Nhà xuất bản Trẻ thêm chưa tới 10 đầu sách, chưa kể những đầu sách đã in ở Nhà xuất bản Trẻ. Hẳn người dân trong xóm Trũng ở phường 7, Gò Vấp chẳng thể nào quên hình ảnh của ông - nhà văn Sơn Nam.
Có thể nói, từ khi lên Sài Gòn làm báo viết văn năm 1955 đến khi được có căn nhà mang tên chủ hộ là mình, nhà văn Sơn Nam đã có hơn 30 năm sống ở Sài Gòn trong tư thế của người tay trắng về tài sản vật chất, chỉ có tài sản ý thức, do bức bách của cuộc sống, phải viết để nuôi sống bản thân và gia đình, nên mới có nhiều tác phẩm. Có thể nói hồi ký là 4 tập sách dài hơi rút cuộc mà nhà văn viết, bởi sau đó ông chỉ viết ngắn, và cho đến năm 2005, sau khi bị tai nạn đụng xe thì gần như thường viết gì nữa.
Có thể nói "Tìm hiểu đất Hậu Giang" là tập sách biên khảo trước tiên được viết dưới dạng văn chương lôi cuốn và khích. Ông là nhà văn Sơn Nam. Hình ảnh một ông già nhỏ thó, kính trắng trễ mũi, điếu thuốc luôn đỏ trên môi, thẳng tính ngồi quán cà phê ở Nhà Văn hóa quận Gò Vấp trên đường Nguyễn Văn Nghi (gần ngã năm Chuồng Chó), chuyện trò với nhiều hạng người, nhiều loại người, hoặc thầm lặng rút vào một góc thư viện để đọc sách và nghiên cứu.
Hơn 30 năm quen biết ông, từ họp hội, làm việc cùng cơ quan, cho đến lúc gần như trở thành người "quản lý" tài chính của ông, với tôi - nhà văn Sơn Nam vẫn là một người luôn mang đến điều bất ngờ choáng ngợp. Bình Thạnh thì gần lăng Ông Bà Chiểu cho nhà văn Sơn Nam tiện việc đi lại tham gia Ban tế lễ lăng Lê Văn Duyệt; còn quận 5 thì không xa trọng điểm người Hoa ở Chợ Lớn để nhà văn gốc Hoa Lý Lan không xa cội nguồn.
Còn bản thân ông thì lại lưu giữ sách vở của người khác để làm tài liệu khảo tra, phục vụ cho việc viết của ông. Một hình ảnh mà có nhẽ họ sẽ chẳng bao giờ được gặp lại. Mãi đến khi tôi chính thức chuyển công tác về Hội Nhà văn Tp HCM, thì một trong những công việc hàng đầu phải lo là làm thủ tục cho ông và cho nhà văn Lý Lan nhận nhà.
Còn lại là tên tác phẩm thôi. Nó dung chứa một thời đoạn lịch sử một cách tương đối khách quan, không nhuốm màu chủ kiến.
Ông thì nhận nhà trệt ở hẻm đường Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thạnh, gần Trường Trung học Võ Thị Sáu; còn Lý Lan thì nhận phòng trong khu nhà góc ngã tư Nguyễn Tri Phương - An Dương Vương, quận 5, gần khu La Kai. Còn tập truyện ngắn "Hương rừng Cà Mau" thì mãi đến sau mùa xuân năm 1962 mới xuất bản, nghĩa là sau gần 7 năm ông từ quê nhà Rạch Giá lên xứ Sài Gòn. Năm năm những con đường, những cơ quan, những chùa chiền, đền miếu, những đình làng, lễ hội ở phố thị Sài Gòn hay xóm ấp miền Nam thiếu vắng bước chân ông - bước chân của con người trải dài những kiến thức đời mình trên những chuyến đi điền dã.
Và vì là thủ lĩnh ở hai quận nên anh Sáu Quang Nguyễn Chơn Trung (Bình Thạnh) và anh Năm Nghị Phạm Chánh Trực (quận 5) phải đảm đang.
Nhà xuất bản phải đi tìm, đi sưu tập để có được. Nhiều người dân nghèo nhập cư nơi ông tạm ở trong những ngày rời gia đình sống lang thang ở Gò Vấp đã có công ăn việc làm, con cái được học hành nhờ vào tinh thần Mạnh Thường Quân của ông.
Tôi đọc văn ông từ hồi còn học trung học, nhưng biết và gặp gỡ ông thì phải đến lúc trưởng thành. Tuốt tuột sáng tác cũ mới của ông đều được viết tay hay đánh máy độc bản và được giao cho bộ phận sử dụng liên can như tòa soạn, nhà xuất bản hay nhà in lưu giữ.
Chuyện ông đi thuê nhà ở, lúc mới đầu nghe thi sĩ Huỳnh Kim nói, tôi cứ ngỡ là chuyện đùa, hoá ra là sự thật. Có nhẽ một phần do điều kiện chỗ ở không cho phép ông có thư viện riêng ở nhà để lục vấn, nên có thể nói những địa chỉ ông thường tiến thoái, la cà là những nơi có nhiều sách tham khảo và nhiều tài liệu lưu trữ. Sau những hoạt động kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - đô thị Hồ Chí Minh với những bài báo, bài viết, cuộc trả lời phỏng vấn phát thanh và truyền hình, những buổi trò chuyện ở cơ quan đơn vị, hình ảnh Sơn Nam như không trực trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhà văn lại trở lại với những hoạt động bình thường của mình.
Bốn tập hồi ký với hơn 500 trang in được viết trong vòng hơn 3 năm, trong đó có nhiều đoạn viết tay, đôi đoạn đánh máy, và năm ba đoạn là được cắt từ một số bài báo rồi chua thêm đôi ba câu dẫn.
Ông cho rằng, người đọc tôn trọng mình thì đầu tiên phải bỏ tiền túi ra, đồng tiền làm từ công sức lao động của mình mà có. Hai mươi năm ở Sài Gòn, ông là người làm nghề viết tự do, không trực thuộc một đơn vị quản lý nào cả, bởi thế phải tự mình lo cho mình nhiều thứ, chứ chẳng có được sự ưu tiên ưu đãi nào.
Một tẹo hồi tưởng để nhớ về ông trong những ngày tháng này sẽ làm chúng ta yêu hơn những trang văn ông để lại cho đời, cho mỗi con người đã đọc ông trên muôn dặm đường đời. Ông đi như một thói quen chẳng thể nào bỏ được. Bí ẩn đến phút rút cuộc. Cuốn sách này ra đời sau cuốn "Chuyện xưa tích cũ" in lần đầu năm 1957, sau đó ông cùng với nhà báo Tô Nguyệt Đình cùng đứng tên viết và bổ sung thêm một số mẩu chuyện để có độ dày như hiện thời.
Choáng ngợp trước tiên là hơn 30 năm sống ở Sài Gòn, dù rất nức tiếng trong "trường văn trận bút", ông vẫn là người đi ở nhà thuê, không một tấc đất chính chủ để cắm dùi.
Chuyện này có được, hình như cũng là nhờ thư tay của ông Sáu Dân Võ Văn Kiệt. Mua sách và xin chữ ký thì ông sẵn sàng ký tặng. Choáng ngợp thứ hai là dù viết khá nhiều sách, nhưng hầu như ở nhà ông không còn quyển sách nào của ông cả, cho dù là một bài báo, hay một mẩu truyện ngắn, một trang bản thảo lưu.
Qua những chuyến đi, hồn đất, hồn sông, hồn người như được khai quật, tô bồi trong lớp lớp phù sa của một thời mở đất.
Mãi đến ngày Sài Gòn phóng thích, ông mới trở thành cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ đô thị Sài Gòn - Gia Định, sau đó năm 1981 thì được biên chế chính thức trong hàng ngũ cán bộ sáng tác của Hội Nhà văn trước khi nghỉ hưu năm 1992.
Dù sao ông cũng giã biệt thế cuộc, từ biệt chúng ta đã tròn năm năm. Người biên tập là tôi nhiều khi phải ngồi phiên chữ ra cho rõ để kỹ thuật viên có thể nhập liệu được. Ông lại đi, lại đi, hết miền Đông lại về miền Tây.
Một con người bình dị đến ráo trọi như thế, một con người chân đi không biết mỏi, mà những năm cuối đời phải nằm nhà quả là một. Nghe nói rằng, thời ông quen nhà văn, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển lúc ông mới chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, thì cái thư viện nhà ông Sển với vô thiên lủng tài liệu lưu trữ lý thú là nơi gợi mở cho ông viết cuốn "Tìm hiểu đất Hậu Giang".
Dù khó khăn nhiều nhưng rốt cục bốn tập hồi ký "Từ U Minh đến Cần Thơ", "Ở Chiến khu 9", "Hai mươi năm giữa lòng thành thị" và "Bình An" cũng đã lần lượt ra mắt bạn đọc.
Và rồi, khi khả năng viết dài không còn đủ, và cũng theo gợi ý của Nhà xuất bản Trẻ, ông tụ hợp viết lại chuyện đời mình từ thơ ấu cho đến lúc bấy giờ, nhằm giúp cho bạn đọc có thêm cơ sở để tiếp cận với thời và thế.
Sơn Nam có thói quen rất lạ là không bao giờ tặng sách cho ai, dù người đó thân quen đến cỡ nào. Nhà văn Sơn Nam bên bức tượng bán thân của mình do các nghệ sĩ Tp HCM gửi tặng.
Xấu số lớn lao. Được dịp đi du lãm cùng ông về miền Tây, ra Hà Nội trong những ngày hội nghị viết văn tôi càng lúc càng thấy kiến văn của ông quả thực hơn người.
Về chữ viết, càng về già, chữ ông càng sít lại, nhỏ hơn và nhiều khi thiếu nét. Ông cứ viết theo từng tuổi, thư thả mà không gò ép, vả ông cũng chẳng phụ trách vai trò quan chức gì to tát trong suốt cuộc thế mình, vì vậy hồi ký cũng chẳng có gì phải tô, phải vẽ cho "ra dáng".
Nó thật sự là tiếng lòng của người thứ dân, đặc biệt là người thường dân cầm bút. Những tập hồi ký nhỏ ấy thật ra không nhỏ một tẹo nào. Bí mật. Bởi vậy dù trước phóng thích, lần đầu in tác phẩm nào cũng có những bản đặc biệt, có đánh số hoặc ghi ký hiệu, nhưng chừng như ông không còn bản sách nào trong số đó cả.
Có thể nói, đối với tôi, nhà văn Sơn Nam là một điều gì đó khôn xiết. Khi chưa bị bệnh và trở về nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng, mỗi năm khi đến đầu niên học và tới dịp lễ Tết, tôi thấy ông lại yêu cầu xuất tiền trong nguồn ngân quỹ do tôi tạm quản lý để mua sách vở, cặp táp và quà bánh tặng các cháu nhỏ nghèo.
Ông còn đích thân đến trường để xin cho các cháu được vào học trường công lập bằng uy tín cá nhân chủ nghĩa của mình. Mới đó mà đã năm năm.
Bên trong cái thân xác gầy mòn yếu ốm là cả một nghị lực phi thường, một nhân tài siêng năng giũa mài và một tấm lòng vị tha đến mênh mông minh mông. Ông viết từng thời đoạn ngắn, không quan hoài đến việc đặt tên cho từng thời kỳ, khiến biên tập viên là tôi phải hỏi ý ông về tên sách cho mỗi tập khi xuất bản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét