Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Lễ truy tiên phong điệu Bác Hồ giữa lòng địch.

Bên mâm hoa, Hòa thượng cho bày bông trang màu đỏ thay cho nền cờ và bông điệp làm ngôi sao vàng

Lễ truy điệu Bác Hồ giữa lòng địch

Năm 1947, Hòa thượng Thích Pháp Lan được cung thỉnh về trụ trì chùa. Non sông còn nhân tài vẫn còn.

Khóc là khóc đấng hào kiệt lỗi lạc, đuổi xâm lăng đòi độc lập - tự do, trọn đời mải lo âu cho dân tộc. Trước lý lẽ sắc bén của Hòa thượng và áp lực của hàng nghìn người dân, Phật tử yêu nước kéo đến chiến đấu, chính quyền Sài Gòn đã phải trả tự do cho Hòa thượng. Chùa Khánh Hưng ngày nay ngụ tại hẻm 390 đường cách mạng Tháng Tám (thời đó là đường Lê Văn Duyệt), phường 11, quận 3, TP Hồ Chí Minh, được khởi tạo từ cuối thế kỷ XIX, do Phật tử hai vùng Khánh Hội và Hòa Hưng góp tiền của xây nên.

Bình thường bàn thờ có mâm hoa, mâm quả. Bài điếu văn được Hòa thượng tẩm sáp ở mặt sau tờ giấy và cho đặt ngay sát nơi đứng chủ lễ hai ngọn nến to. Chiếc bàn độc tại Lễ truy điệu Bác Hồ do Hòa thượng chủ lễ nay được trưng bày tại bảo tồn Hồ Chí Minh trong khu Bến Nhà Rồng. Một góc chùa Khánh Hưng. Năm 1953, Hòa thượng được đề cử làm Tổng Thư ký Tăng đoàn Liên tông Việt Nam.

Thinh thinh bể rộng sóng vơi đầy. Sau ngày thống nhất sơn hà năm 1975, Hòa thượng đảm nhận nhiều chức vụ quan yếu trong Giáo hội Phật giáo và chiến trường giang san Việt Nam. Bên mâm quả, Hòa thượng bày quả xoài cát Hòa Lộc màu vàng làm ngôi sao và quả mận hồng đào (quả bồng bồng) làm nền cờ.

Hơn 50 năm hóa đạo, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã cống hiến trót máu nóng, tài đức cho đạo pháp - dân tộc và lịch sử tranh đấu, phát triển nền hòa bình, độc lập, thống nhất chung cả đời và đạo.

Vế thứ hai nói lên tình cảm của dân chúng thế giới hết sức kính phục đấng tu mi nam tử. Quê hương còn đó, nước non còn đó, uất hận thay vật đổi sao dời.

Nhớ đến Bác càng thương càng khóc. Tôi đã cầm cố xếp đặt, biểu thị ý theo loại thể văn tế, xin được đọc như sau:  nam vô Bổn sư Thích Ca Màu Ni Phật Hôm nay đứng trước linh bàn, hòa vọng với hương lửa ngùn ngụt, trước Anh linh Người vô vàn kính mến, trọn đời đã vì nước mà quên mình, vì đất nước và quần chúng, Bác không sợ hiểm nguy tới tính mệnh.

Cung dung khấu thủ   Sau ngày Bác mất, kẻ thù tưởng rằng ý chí chống chọi của quần chúng. Ôi! Lồng lộng trời cao mây phơi phới. Đây là nơi độc nhất ở Sài Gòn - Gia Định công khai tổ chức truy điệu Người mặc dù bị địch theo dõi, khủng bố ghét.

Vì lẽ ấy thành ra Bác quyết ra tay diệt giặc, phấn đấu kiên cường, đánh đuổi kẻ thù, oai danh lừng lẫy, trải sao gian khó cực khổ, lướt gió xông sương, bươn nguồn vượt suối, quyết giữ giàng giang sơn giang sơn Bác là bậc tài năng vô song, trọng nghĩa vụ nặng hơn núi cả, tài bạt thiệp khắp toàn cầu Âu - Á, trí thông minh nổi danh cả Đông - Tây Tuôn máu đỏ nhuộm cờ hồng, dựng khắp sông núi đất Việt Lấy da vàng nêu sao sáng, phất rạng cương vực trời Nam.

Trong hoàn cảnh chính quyền Sài Gòn o ép, khủng bố gắt, không cho bất kỳ cá nhân, đoàn thể nào công khai tổ chức truy điệu Cụ Hồ, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã thức trọn đêm, nghĩ ra đôi câu đối:  Nam Bắc toàn dân quy thượng chính Á Âu thế giới kính tu mi.

# Sẽ suy sụp, cách mạng sẽ đi vào thoái trào, nhưng với lòng yêu kính vô biên lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã biến đau thương thành hành động cách mạng, tiếp kiến xốc tới giành thắng lợi trên mọi chiến trận đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Nội dung quan trọng nhất, vấn đề quan yếu nhất của buổi lễ truy điệu là bài điếu văn. Ông tiếp kiến hoạt động phụng sự đạo pháp và dân tộc, có nhiều đóng góp cho phong trào chiến đấu cách mạng, sự nghiệp xây dựng khối đại kết đoàn toàn dân và tu sửa chùa Khánh Hưng ngày thêm khang trang, tú lệ.

Anh hùng tử khí anh hùng há tử. Hòa thượng pháp húy Trừng Tâm, pháp danh Thiện Hảo, thế danh là Lê Hồng Phước, sinh năm 1913, quê ở làng Tây An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, xuất gia quy y từ năm 14 tuổi. Giúp tổ quốc mau được yên bình, phò sơn hà chóng nên độc lập Cẩn cáo đài tiền.

Tuy đã công phu như vậy, nhưng những người đứng ra tổ chức buổi lễ còn chủ tâm tìm cách trình bày được tên Bác Hồ trong lễ cầu siêu.

Trên bàn độc, chỗ trang trọng nhất, nơi thường đặt bài vị có mấy chữ Hán “Quốc gia tối thượng”, nghĩa là “Quốc gia trên hết”, cũng có thể hiểu đó là bài vị “Người cao nhất nước nhà”, người đó là Hồ Chí Minh. Thấy bọn giặc thêm hận thêm thù. Là một nhà tu hành yêu nước, trong kháng chiến chống Pháp, Hòa thượng vừa tiếp kiến công việc tiếp dẫn hậu lai, vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng, được giao đảm nhận an ninh Khu 4 - Mỹ Tho và giữ chức phận Chủ tịch Lực lượng Phật giáo cách mệnh Sài Gòn - Gia Định.

Đọc xong, Hòa thượng châm tờ giấy vào ngọn nến. Lư trầm đảnh lửa hương ngát, cung kính lòng ngưỡng đạt trước Chân linh. Không nhiều người có may mắn được biết nguyên văn bài điếu do Hòa thượng đọc tại Lễ truy điệu ngày 9-9-1969, do sau khi đọc xong Hòa thượng đã châm lửa hóa ngay văn bản này.

Nhiều nguồn sử liệu cho thấy, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chùa Khánh Hưng, do Hòa thượng Thích Pháp Lan, khi đó là Thượng tọa trụ trì, làm chủ lễ với sự dự của hàng trăm người. Đại tá Nguyễn Trần Thiết đã tặng tôi một bản chép lại. Ban tổ chức cũng bố trí nhiều nhà sư, chú tiểu, các Phật tử là nam thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ làm thành hàng rào danh dự bảo vệ lễ đàn để tăng thêm vẻ nghiêm trang, tôn kính của buổi lễ và sẵn sàng xả thân đối phó với cảnh sát, mật vụ nếu chúng xông vào.

Nghĩ mấy đoạn lệ tràn chứa chan. Theo “HCM Citynet” của UBND TP Hồ Chí Minh, đúng 2h chiều 9-9-1969, chỉ sau Lễ truy điệu chủ toạ Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vài tiếng đồng hồ, Lễ truy điệu Người tại chùa Khánh Hưng bắt đầu. Nhiều trí thức có danh tiếng ở Sài Gòn như bà luật sư Ngô Bá Thành, trạng sư Trần Ngọc Liễng, các vị Nguyễn Long, Dương Văn Đại, Đặng Văn Ký.

Nhớ công ơn cảm động can tràng. Đại thắng mùa Xuân 1975 chấm dứt với thắng lợi của chiến dịch mang tên Bác, miền Nam hoàn toàn giải phóng, sơn hà hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện chúc thư của Người: Xây dựng giang san ta tử tế hơn, to đẹp hơn. Cùng hơn 200 thanh niên, học sinh, bà con Phật tử yêu nước đã tề tựu dự lễ.

Bốn ngày sau, Tổng nha Cảnh sát chính quyền Sài Gòn mời Hòa thượng đến thẩm vấn suốt từ 8h sáng đến 5h chiều. Năm 1963, cùng chư tôn giáo phẩm, dự trong Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, Hòa thượng đã tích cực đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nếu để ý, cũng có thể thấy chủ tâm ở hai từ cuối mỗi vế đối: Chính, Mi nói lái thành Chí Minh, tên Cụ Hồ.

Để che mắt bọn mật vụ tay sai địch, Hòa thượng cho trang trí bàn thờ thật khéo, vừa có hình ảnh cờ đỏ sao vàng vừa bày được bài vị chủ toạ Hồ Chí Minh. Sau cơn suy tim đột ngột, Hòa thượng đã xả báo an tường, thu thần thị tịch lúc 2h30 ngày 1-3-1994 tại trụ xứ chùa Khánh Hưng, trụ thế 81 năm, hạ lạp trải qua 59 mùa an cư kiết hạ. Tại cuộc gặp mặt cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Davis đầu tháng 8 này, tôi được Đại tá nhà văn Nguyễn Trần Thiết cho biết, bài điếu được Hòa thượng chép làm ba bản, hai bản khác chôn ở hai nơi bí hiểm nên còn giữ được.

Hòa thượng Thích Pháp Lan dáng vẻ uy nghiêm, đĩnh đạc chủ lễ, giọng trầm ấm truyền cảm đọc bài điếu văn hoài tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không khí nghiêm trang, thành kính.

Nhớ linh xưa! Bác là đấng Anh hùng vĩ có nhân quốc đã đem từng giọt máu trừ khử loài sâu mọt, mong sao được rạng vẻ đất nước. Vế đối thứ nhất nói được tình cảm của toàn dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều quy phục người vĩ nhân chân chính. Năm 1969, được tin Bác Hồ qua đời, Hòa thượng Thích Pháp Lan khôn xiết đau xót, mong muốn làm một việc gì đó để tỏ lòng thành kính thương tiếc bậc đại trí, đại nhân, đại dũng của dân tộc.

Bài điếu phải nói được công lao của Bác, tấm lòng của quần chúng hướng về Bác, không dài quá để tránh bị cảnh sát, mật vụ chế độ ngụy quyền phát hiện khủng bố giữa chừng và phải linh hoạt dễ phi tang, không để địch ập vào dùng vũ lực thu mất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét