Tuy nhiên với offshoring, mất mát về việc làm ảnh hưởng không chỉ tới ngành công nghiệp cụ thể, mà tới quờ quạng khu vực sinh sản
Lý thuyết truyền thống về ngoại thương được xây dựng dựa trên quan niệm rằng mỗi nước đều có lợi thế cạnh tranh đối với một loại sản phẩm, dịch vụ khăng khăng so với các nước khác trong thị trường cạnh tranh toàn cầu.
Tuy nhiên sự để ý dành cho chuỗi giá trị toàn cầu đã chuyển việc phân tích thương mại ra khỏi thị trường và hướng tới các tổ chức – bao gồm cả các tập đoàn và chính phủ – có chức năng giám sát hoặc không đủ khả năng giám sát các hoạt động của mình.
Làm sao để biết được đâu là hàng nhập khẩu, đâu là hàng xuất khẩu khi mà hàng du nhập lại là những linh kiện rất quan yếu để sản xuất hàng xuất khẩu, và ngược lại? Trong cuốn sách mới của mình có tên "Outsourcing Economics" (tạm dịch: kinh tế thuê ngoài), Wiliam Milberg và Deborah Winkler tranh luận rằng ngay cả những người làm trong ngành kinh tế hay các con số cụ thể về thương mại nhà nước cũng khó có thể đáp câu hỏi trên.
Trong thế giới thực, các công ty lớn thường dựa vào lợi thế quy mô để tăng tính kinh tế và thực hành các thủ thuật mang tính chiến lược để kiếm thêm lời trong khi phải cạnh tranh về giá.
Hầu hết các tập đoàn đa quốc gia đều mong muốn nắm trong tay sức mạnh đáng kể trên thị trường, tăng áp lực mà cả đối với các công ty cung cấp linh kiện nhỏ. Hồ hết iPhone đều được lắp ráp tại Trung Quốc và tạo ra cho Mỹ một lượng thặng dư thương mại đồ sộ. "Made in USA" vẫn là một cái mác cuộn rất nhiều khách hàng, tuy nhiên nếu hiểu rõ công việc kinh doanh, chúng ta có thể thấy rằng lời khẳng định này thực chất rất mơ hồ.
Apple là của ai? tỉ dụ tiêu biểu nhất của hiện tượng này là Apple. Hệ số biên lợi nhuận gộp Apple có được từ iPhone tăng 49% từ 2010 tới 2012. Giá các linh kiện nhập khẩu từ Đức, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ và các nhà nước khác vượt xa rất nhiều giá trị gia tăng tại Trung Quốc.
Kết quả là họ giành được một lượng lớn lợi nhuận mà đáng nhẽ người tiêu dùng đã được hưởng trong giá. Nếu nhìn theo cách này thay vì doanh số, thặng dư thuơng mại của Trung Quốc khi sinh sản iPhone thực ra lại là thâm hụt.
Nói cách khác, iPhone thực ra không được sản xuất tại Trung Quốc, mặc dù công đoạn lắp ráp cuối cùng diễn ra tại đó.
Sức mạnh Vậy nếu ngoại thương tiếp tục với hình thức offshoring thì sao? Có ý kiến cho rằng nó vẫn đem lại những ích lợi to lớn cho người tiêu dùng, kể cả khi đã tính đến những mất mát gây cho thị trường việc làm nội địa.
Sau đó số tiền tiết kiệm sẽ được dùng để tăng lợi nhuận thay vì giảm giá cho người tiêu dùng. Milberg và Winkler định nghĩa offshoring là "thảy các hàng hóa trung gian mua tại nước ngoài, phê chuẩn các hoạt động gia công từ xa (offshore outsourcing) hoặc trong nội bộ một tập đoàn đa quốc gia".
Họ ước tính rằng giá trị của những hàng hóa đầu vào nhập cảng so với tổng đầu vào trong quá trình sản xuất tại Mỹ là 16,4% vào năm 2010, tăng từ 6,2% của năm 1984.
Nguồn lực của họ giúp họ thuê được nhân lực giá rẻ nhất. Điều này lý giải vì sao các tập đoàn trong nhóm độc quyền của thị trường thường chọn địa điểm sản xuất tối ưu cho từng công đoạn cụ thể. Việt Dũng Theo New York Times. Sự kết hợp lỏng lẻo giữa quản lý, sinh sản và chính sách đã làm yếu đi sức mạnh mặc cả của công nhân. Thay vì xuất khẩu iPhone, Trung Quốc chỉ là một bước hiện hữu rõ nhất trong dây chuyền chế tạo toàn cầu của Apple.
Lý thuyết ngoại thương khẳng định ích của khách hàng sẽ ảnh hưởng tới công nhân trong ngành công nghiệp.
Trong một thế giới lý tưởng với các thị trường hoàn hảo, lợi nhuận cao nhanh chóng biến mất khi có thêm người tham dự vào thị trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét