Phần khai mạc của bản án: Khoản 3 Điều 164 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên phạt; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, trách nhiệm liên tưởng; người đại diện, người bảo vệ quyền và ích lợi hợp pháp của đương sự; những người tham dự tố tụng khác; đối tượng khởi kiện; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử”
…” Liền ngay dưới dòng ghi về đương sự họ bảo vệ song ghi ở cuối phần mở màn. Nhưng Điều 52 Luật Tố tụng hành chính nêu rõ người có lợi quyền, trách nhiệm liên can gồm: người có quyền lợi, trách nhiệm liên can có đề nghị độc lập; người có lợi quyền, trách nhiệm liên quan dự tố tụng với bên khởi kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên hệ tham gia tố tụng với bị đơn kiện.
Phần diễn đạt của người bị kiện được các bản án miêu tả rất “đa dạng” như: “Đại diện ủy quyền của UBND… thể hiện:”, “Quan điểm của UBND…”, “Đại diện UBND… miêu tả:”, “Phía người bị kiện - … - đại diện theo ủy quyền là bà… biểu lộ:”. Việc ghi như vậy có thể sẽ làm cho những người không biết về thủ tục tố tụng tưởng rằng Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên cũng nằm trong Hội đồng xét xử.
Tuy nhiên, có 6 vấn đề sau đây cần xem xét: Dòng ghi tháng ngày năm bên phía trái ngay dưới dòng “bản án số”, theo chỉ dẫn là ghi ngày tháng năm tuyên xử; nhưng nếu không phải là người công tác tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc không phải là luật sư, thì sẽ khó biết được đó là ngày tháng năm tuyên phạt. Mẫu bản án dân sự sơ thẩm có chỉ dẫn “Trong phần này ghi quan hệ được xác lập giữa các đương sự dẫn đến có tranh chấp; các vấn đề cụ thể mà người khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết; yêu cầu phản tố (nếu có) và yêu cầu cụ thể của bên bị; yêu cầu độc lập và yêu cầu của người có quyền lợi, trách nhiệm can dự (chú ý không diễn tả diễn biến sự việc theo lời diễn tả của các đương sự)”.
Tuy nhiên, các bản án hành chính sơ thẩm hầu như chưa theo đúng quy định nêu trên của Luật Tố tụng hành chính và cũng chưa thật sự biểu hiện hao hao theo mẫu bản án sơ thẩm được ban hành kèm theo quyết nghị số 01/2005/NQ-HĐTP.
Cách ghi này cần được trình bày lại để người đọc thấy được sự bình đẳng giữa hai bên đương sự trước Tòa án và đảm bảo hợp nhất giữa các bản án.
Ngày… tháng… năm… của Chủ tịch UBND tỉnh…”. Cách ghi này là theo đúng chỉ dẫn tại mẫu bản án, nhưng dường như thường hợp lắm vì Luật Tổ chức Tòa án dân chúng quy định ở Tòa án có Thư ký Tòa án, Điều 34, Điều 38 Luật Tố tụng hành chính nêu rõ một trong những người tiến hành tố tụng là “Thư ký Tòa án” chứ không phải là “cán bộ Tòa án” và “ghi biên bản phiên tòa” chỉ là một trong những nhiệm vụ của Thư ký Tòa án.
Vấn đề đặt ra là có cần trình bày như thế không hay chỉ cần nêu một cách rõ ràng ý kiến rút cuộc của họ. Do đó nên ghi rõ là “Ngày tuyên án”. Nhìn chung các bản án đều viết phần nhận thấy theo cách miêu tả lần lượt các sự kiện như “kể chuyện”, làm cho người đọc rất khó nắm bắt yêu cầu cụ thể của đương sự và khó xác định được những “tiền đề” mà Hội đồng xét xử sẽ phân tách lập luận để ưng ý hay không ưng ý ở phần “XÉT THẤY”.
Việc ghi người có quyền lợi, bổn phận can hệ: mẫu bản án dân sự sơ thẩm chỉ dẫn ghi như đối với bên nguyên, hoặc bên bị, tức thị chỉ ghi tên và địa chỉ. Trong trường hợp đương sự có nhiều người đại diện theo ủy quyền, không thấy ghi phạm vi được ủy quyền của từng người đại diện. Cách ghi này không hợp lý và không đúng với hướng dẫn của mẫu bản án.
Về việc ghi trích yếu dưới dòng ghi ngày tháng năm tuyên phạt, có 10/21 bản án đã không ghi trích yếu, 3 bản án chỉ ghi “V/v khởi kiện quyết định hành chính”, 1 bản án ghi “khởi kiện quyết định hành chính số.
Như vậy, cho đến nay bản án hành chính sơ thẩm được viết tương tự như bản án dân sự sơ thẩm. Ảnh minh họa Nhìn chung, phần mở đầu của các bản án đều đã viết đúng như quy định tại khoản 3 Điều 146 nêu trên và hướng dẫn tại Mẫu bản án dân sự sơ thẩm (Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP).
Do đó, cần phải có chỉ dẫn riêng về việc viết bản án hành chính sơ thẩm. Chỉ dẫn này không thật hiệp với việc viết bản án hành chính như: không có quan hệ… dẫn đến có tranh chấp, không có vấn đề phản tố. Điều 164 Luật Tố tụng hành chính ngày 24/11/2010 quy định về bản án hành chính sơ thẩm đã chép gần như nguyên văn Điều 238 về bản án sơ thẩm của BLTTDS năm 2004. Phần nhận thấy của bản án: Theo quy định tại khoản 4 Điều 164 Luật Tố tụng hành chính, phần nhận thấy (phần nội dung vụ án) phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; đề nghị của người bị kiện; yêu cầu, đề nghị độc lập của người có lợi quyền, bổn phận liên hệ.
# Tỉnh X” là dòng chữ “với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có”, ghi Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm dân chúng, liền ngay đó ghi Thư ký Tòa án, đại diện Viện kiểm sát.
Cách viết này dễ gây cho người đọc hiểu nhầm nội dung vụ án là nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử. Cụ thể như sau: Nhiều bản án đã “tường thuật” nội dung vụ án mà không rõ đâu là diễn tả của người khởi kiện và đâu là biểu lộ của người bị kiện. ”, Với trích yếu này chỉ cần ghi “V/v khiếu kiện quyết định hành chính hủy kết quả đấu giá QSD đất” là đủ. Việc ghi thành phần Hội đồng xét xử của các bản án đều theo đúng hướng dẫn của mẫu bản án: Dưới dòng chữ “Tòa án quần chúng.
” Theo hướng dẫn tại tiểu mục 17. Đối với phần biểu đạt của các đương sự, nhiều bản án đã biểu lộ theo từng thời đoạn: tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa. (Còn nữa) Ngô Cường. 1 mục 17 quyết nghị số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân vô thượng thì “Bản án hành chính sơ thẩm cần phải có các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 49 của Pháp lệnh và phải được diễn tả hao hao theo mẫu bản án sơ thẩm được ban hành kèm theo quyết nghị số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng quan toà Tòa án quần chúng tối cao” (tức hao hao mẫu bản án dân sự sơ thẩm).
Về việc ghi “Người bảo vệ quyền và lợi ích…” và “người đại diện”: đa số các bản án đều không ghi “Người bảo vệ quyền và lợi. Một số bản án lại ghi trích yếu quá dài, tỉ dụ: “V/v khiếu kiện quyết định số 4522/QĐ-STC ngày 27/9/2010 của Sở Tài chính Hà Nội về việc hủy kết quả trúng đấu giá QSD đất 16 thửa đất các lô đất No10B, No11B Khu đô thị mới Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội.
Về Thư ký Tòa án, các bản án đều ghi “Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông (bà)…cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh X”. Việc ghi như vậy không sai so với quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính nhưng làm cho người đọc không nhận biết được đó là quyết định hành chính về vấn đề gì.
Việc viết bản án hành chính sơ thẩm hiện thời Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (ngày 21/5/1996 được sửa đổi bổ sung ngày 25/12/1998 và ngày 5/4/2006) thì bản án hành chính sơ thẩm phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm, địa điểm tiến hành phiên tòa; Họ, tên thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký phiên tòa; Tên, địa chỉ của các đương sự, người đại diện của họ; yêu cầu của các đương sự; Những tình tiết đã được chứng minh, những chứng cớ, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án; Các quyết định của Tòa án; Án phí, người phải chịu án phí; Quyền kháng cáo của đương sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét